KHẢI HOÀN GROUP

ABOUT COMPANY

Lĩnh vực đầu tư chính

Mục tiêu của KHINVEST OF KHG và GSGIMEX thúc đẩy sự tăng trưởng và tiềm năng của các lĩnh vực khoa học kỹ thuật tại Việt Nam. Chúng tôi tập trung đầu tư vào các công ty theo các tiêu chí sau:

  • Người tiêu dùng công nghệ Việt Nam
  • Hơn 68% của 90 triệu dân Việt Nam có độ tuổi dưới 30. Đây là nhóm người có tỷ lệ phổ cập giáo dục cao, cầu tiến và có hiểu biết rộng. Họ là những người tiêu dùng đắc lực của các sản phẩm công nghệ như mạng xã hội, dịch vụ giá trị gia tăng cho điện thoại di động, và các trò chơi trực tuyến với những sản phẩm ảo.
  • Việt Nam là nhà cung cấp sản phẩm và dịch vụ
  • Việt Nam có lợi thế để trở thành một nhà cung cấp sản phẩm và dịch vụ công nghệ cho thị trường thế giới. Những yếu tố then chốt cho lợi thế này gồm có:
  • Lực lượng lao động với chi phí thấp: Trong khi trình độ của lực lượng lao động Việt Nam đã tiến bộ, chi phí lao động vẫn thấp khi so sánh với các nước châu Á khác như Trung Quốc và Ấn Độ. Với chi phí lao động gia tăng ở các nước khác, các tập đoàn quốc tế sẽ dần chú ý đến Việt Nam như một nơi cung cấp sản phẩm và dịch vụ tốt.
  • Đặc biệt là đầu tư vào nông nghiệp, phân phối sản phẩm từ nông nghiệp

  1. Trong vài năm tới Việt Nam sẽ tiếp tục củng cố vị thế này, với sự phát triển mạnh về sản xuất sản phẩm công nghệ (Trung Quốc + 1) và gia công phần mềm (Ấn Độ + 1).
  2. Đầu tư vào các doanh nhân thành đạt gốc Việt
  3. Có hơn 4 triệu người gốc Việt sống tại nước ngoài, với đa số tập trung ở Hoa Kỳ. Phần lớn lực lượng lao động tại Sillicon Valley là người gốc châu Á,các doanh nhân gốc Việt đã bắt đầu hồi hương để sáng lập những doanh nghiệp tiên phong cho nền kinh tế đang thay đổi của Việt Nam.
  4. Ngoài việc trở về Việt Nam, nhiều người gốc Việt đang sáng lập những doanh nghiệp tại nước ngoài với kế hoạch phát triển vào thị trường Việt Nam, hoặc dùng Việt Nam như một nơi cung cấp lao động và dịch vụ chính. Những doanh nghiệp này là những bổ sung tích cực cho môi trường kinh doanh tại Việt Nam, và họ được sự ủng hộ của chính phủ và lực lượng lao động địa phương.

CAPABILITIES

Contructions

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   Art. 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Viễn Thông

 

 

 

 

 

Sản Xuất

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 Đầu Tư Vào

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Entertainment

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giáo Dực- Y Tế - Bênh Viện

 

 

 

 

 

 

 

Ứng Dựn Cộng Nghệ Thông Tin

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kiểm Toán- Lĩnh Vực Khác

 

 

 

 

 

 

 

THƯ VIỆN

Entertainment
Entertainment
Entertainment
Entertainment

Cần tăng cường vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn

Khu vực nông nghiệp, nông thôn có khoảng 70% dân số sinh sống và khoảng 60% lao động của cả nước, đóng góp 20% GDP.Nông nghiệp, nông thôn xưa - nay khẳng định vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế quốc dân, nhất là khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, mất cân đối vĩ mô. Như người xưa đã tổng kết "phi nông, bất ổn"! Tuy nhiên, vốn đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn vẫn còn thiếu, mới đáp ứng hơn 1/2 nhu cầu.
Thực trạng đầu tư nông nghiệp, nông thôn

Hội nghị Trung ương 7 khóa X đã ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Cụ thể hóa chỉ đạo của Nghị quyết 26, Chính phủ cũng đã ban hành một loạt các văn bản, như: Nghị định 41/2010/NĐ-CP, Nghị định 61/2010/NĐ-CP nhằm khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và các chính sách hỗ trợ đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, hay Quyết định 315/QĐ-TTg (về bảo hiểm nông nghiệp), Quyết định 1956/QĐ-TTg (về đào tạo nghề nông thôn)...

Trước khi có Nghị quyết 26, tổng vốn đầu tư bố trí cho nông nghiệp, nông thôn bình quân trong 3 năm 2006 - 2008 là 146.575 tỷ đồng (bình quân mỗi năm là 48.858 tỷ đồng), bằng 45,2% tổng vốn đầu tư phát triển nguồn vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ. Sau khi Nghị quyết 26 ra đời, mức đầu tư cho lĩnh vực này tăng lên rõ rệt: Năm 2009, tổng vốn đầu tư cho khu vực này là 90.006 tỷ đồng, tăng 45% so với năm 2008; Năm 2010 là 94.754 tỷ đồng, tăng 5,3% so với năm 2009; Năm 2011 là 100.615 tỷ đồng, tăng 6,7% so với năm 2010. Tính chung trong 3 năm (2009-2011), tổng vốn đầu tư công bố trí cho khu vực này là 285.465 tỷ đồng, bằng 52% tổng vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ, gấp 1,95 lần so với trước khi có Nghị quyết 26.

Như vậy, cả giai đoạn 2006-2011, nguồn vốn đầu tư công cho nông nghiệp, nông thôn là hơn 432.000 tỷ đồng, bằng 49,67% tổng vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ. Trong đó, đầu tư cho phát triển sản xuất nông nghiệp là 153.548 tỷ đồng, bằng 35,48% tổng vốn đầu tư; đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn là 279.240 tỷ đồng, bằng 64,52% tổng vốn đầu tư.

Bên cạnh đó, hằng năm Nhà nước đều bố trí nguồn vốn dự phòng ngân sách Trung ương để hỗ trợ các địa phương và nông dân, mỗi năm từ 7.000 - 8.000 tỷ đồng, chủ yếu hỗ trợ các địa phương khắc phục hậu quả thiên tai, lụt bão, dịch bệnh... Ngoài ra, nguồn thu từ xổ số kiến thiết cũng được đầu tư cho lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn mỗi năm khoảng 8.000 tỷ đồng từ. Nhà nước còn hỗ trợ nông dân thông qua chính sách miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp khoảng 2.000 tỷ đồng, miễn thu thủy lợi phí khoảng 4.000 tỷ đồng (Vương Đình Huệ, 2013).

Cùng với nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, nguồn vốn ODA cho lĩnh vực này cũng ngày càng được mở rộng và tăng cường. Trong giai đoạn 2006-2011, tổng giá trị vốn ODA đã được ký kết lên đến trên 26,897 tỷ USD, với hơn 94% là nguồn vốn vay ưu đãi, trong đó vốn đầu tư dành cho nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp và thủy sản kết hợp phát triển nông nghiệp, nông thôn, xóa đói, giảm nghèo là 3,833 tỷ USD. Dư nợ cho vay theo cơ chế thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng trưởng qua các năm với tốc độ bình quân gần 24%/năm (Vương Đình Huệ, 2013).

Mặc dù Nhà nước đã chú trọng đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn, nhưng trên thực tế mới chỉ đáp ứng được 55% - 60% yêu cầu, vì vậy chưa phát huy hết tiềm năng trong nông nghiệp, nông thôn. Cùng với đó, tình trạng đầu tư dàn trải, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, một số nơi vẫn xảy ra sai phạm trong quản lý đầu tư khiến vốn đầu tư đã ít lại bị lãng phí.

Nguồn lực đầu tư vẫn chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, việc huy động nguồn lực đầu tư của toàn xã hội còn hạn chế. Cụ thể, đầu tư của tư nhân trong nước vào nông nghiệp, nông thôn chủ yếu dựa vào nguồn vốn của hộ gia đình. Theo kết quả Tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn năm 2011, bình quân mỗi hộ ở nông thôn chỉ có 17 triệu đồng tích lũy, còn hộ nông nghiệp chỉ có 12,5 triệu đồng tích luỹ, tương đương khoảng 600-800USD/hộ/năm. Tích lũy thấp, nên nông dân khó đầu tư máy móc thiết bị, cải thiện kết cấu hạ tầng, nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm.
Nguồn FDI đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn cũng thấp. Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, vốn FDI đầu tư vào nông, lâm, thủy sản năm 2012 chỉ chiếm 0,6% trên tổng vốn đầu tư và đang có xu hướng giảm.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban chấp hành Trung ương (2008). Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

2. Vương Đình Huệ (2013). Nâng cao hiệu quả đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Tạp chí Cộng sản điện tử, truy cập từ http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/nong-nghiep-nong-thon/2013/21330/Nang-cao-hieu-qua-dau-tu-cong-cho-nong-nghiep-nong-dan.aspx

3. Nguyễn Đỗ Anh Tuấn (2012). Thực trạng, giải pháp và định hướng đầu tư cho "tam nông", Tạp chí Tài chính điện tử, truy cập từ http://www.tapchitaichinh.vn/Nghien-cuu-dieu-tra/Thuc-trang-giai-phap-va-dinh-huong-dau-tu-cho-tam-nong/14038.tctc